Bài 158 : Lễ Hiển Linh và Lễ Ba Vua | Dưới ánh sáng Lời Chúa
Bài 158 : Lễ Hiển Linh và Lễ Ba Vua
Chúa Nhật tới đây là Lễ Hiển Linh, phụng vụ tập trung vào mầu nhiệm này qua trích đoạn Tin Mừng Mt 2,1-12 nói về việc các nhà chiêm tinh từ phương Đông đến thờ lạy Hài Nhi Giê-su và dâng các lễ phẩm cho Người. Câu chuyện này không chỉ kể lại một biến cố thời thơ ấu của Đức Giê-su, mà còn công bố mầu nhiệm Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân.
Hình ảnh các nhà chiêm tinh đến từ miền đất dân ngoại cho thấy người ta thuộc mọi dân tộc, nhờ lòng khao khát chân lý và đọc biết các dấu chỉ (ngôi sao), đều có thể đến với Đức Giê-su, tin nhận Người và trở nên dân Người.
Lễ phẩm là vàng, nhũ hương và một dược mà các đạo sĩ dâng tiến không chỉ là quà tặng mà còn là lời tuyên xưng đức tin về một Hài Nhi : vàng tượng trưng cho vương vị, nhũ hương dùng trong việc thờ phượng nên ám chỉ thần tính, và một dược dùng để tẩn liệm người quá cố nên tượng trưng cho cái chết của Đức Giê-su.
Như vậy, mầu nhiệm Hiển Linh khai mở ơn cứu độ phổ quát, không dành riêng cho dân Ít-ra-en hay người Do-thái mà cho mọi dân tộc.
Trong buổi học hỏi tuần này, chúng ta cùng tìm hiểu : Các nhà chiêm tinh, và Ba Vua là ai và hành động của các họ trước Hài Nhi Giê-su có ý nghĩa gì ?
I. CÁC NHÀ CHIÊM TINH LÀ AI ?
1. Thuật ngữ “magoi” và bối cảnh cổ xưa
Danh từ magoi (μάγοι) là số nhiều của magos (μάγος) có nguồn gốc từ tiếng Ba Tư magus. Trong xã hội Ba Tư, magus chỉ tầng lớp các tư tế - hiền triết, chứ không mang nghĩa phù thủy hay ma thuật. Trong đế quốc Ba Tư, các tư tế giữ vai trò cố vấn triều đình, chuyên lo việc lễ nghi tế tự, nhất là các việc về thiên văn (quan sát bầu trời), chiêm tinh (đọc ý nghĩa của các thiên thể), giải đoán điềm trời và vận mệnh lịch sử quốc gia, giải mộng và điềm báo vũ trụ (x. Đn 2 ; 4). Đối với thế giới cổ đại, ba yếu tố thiên văn, chiêm tinh, thần học không bao giờ tách rời nhau, mà hợp thành một thể thống nhất : vũ trụ - thần học (cosmotheology) hay thần học vũ trụ.
Còn trong truyền thống Hy-lạp cổ xưa, magoi không mang nghĩa tiêu cực : Sử gia Herodotos định nghĩa magoi là tầng lớp tư tế của người Mê-đi - Ba Tư (x. Histories I.101 ; I.132) trong khi triết gia Platon thì cho rằng magoi là các bậc thầy về thần linh (x. Alcibiades I, 122a).
Thời Hy-La muộn (tk I tCN đến tk I CN), danh xưng magos được hiểu theo nghĩa dân gian với ý nghĩa tiêu cực : ám chỉ các pháp sư, phù thủy hay kẻ lừa đảo. Sách Công vụ có nói đến một người tên là Simôn hành nghề phù phép tà thuật (μαγεύων) nhưng sau đã chịu phép rửa trở thành Ki-tô hữu (x. Cv 8,9-13).
2. Magoi trong Tin Mừng Mát-thêu
Mt 2,1-2 viết : “Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có “magoi” từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, và hỏi : ‘Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người’”.
Ở đây, Mát-thêu không sử dụng các từ basileis (các vua), archontes (các thủ lãnh), dynatoi (các bậc quyền thế), mà dùng từ magoi. Vậy, magoi theo tác giả Mát-thêu có nghĩa gì ?
Dựa vào ngữ cảnh đoạn văn trên, chúng ta thấy Mát-thêu mô tả magoi bằng các đặc điểm sau :
- Quan sát thiên văn : “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người…” (Mt 2,2) ;
- Thực hiện hành trình trí thức - tôn giáo khi họ từ phương Đông, đi tìm “Vua dân Do-thái”, không làm phép thuật, không niệm chú, không thao túng quyền lực siêu nhiên ;
- Biết phân định, bằng chứng là họ không quay lại với Hê-rô-đê (x. Mt 2,12) mà nghe lời cảnh báo trong giấc mộng để theo lối khác mà về xứ mình.
Qua đó, chúng ta thấy không có yếu tố phù thủy, ma thuật nào được đề cập đến. Như vậy, chắc chắn Mát-thêu hiểu từ magoi mang nghĩa tích cực theo lối hiểu thời Ba Tư và văn chương Hy-lạp cổ điển, họ là “các nhà chiêm tinh - các đạo sĩ - các nhà hiền triết phương Đông”, họ được ánh sáng tự nhiên dẫn đường, cất công tìm đến Hài Nhi Giê-su để thờ lạy và dâng lễ vật.
II. PHƯƠNG ĐÔNG VÀ NGÔI SAO
1. Phương Đông là ở đâu ?
Phần lớn các học giả Kinh Thánh đều cho rằng phương Đông là vùng phía đông Pa-lét-tin, cụ thể là Ba Tư (nay là Iran) hoặc Ba-by-lon - vùng Lưỡng Hà (nay là Iraq). Vì sao lại là các vùng này ?
Lý do là vì ở Ba Tư và Ba-by-lon, chiêm tinh học rất phát triển và kéo dài cho đến tận thời Đức Giê-su. Khi bị lưu đày đến phương Đông này, người Do-thái đã để lại nơi đây dấu ấn của Kinh Thánh, và vì thế các nhà chiêm tinh phương Đông, vốn là những bậc trí thức, đã biết đến lời sấm về Đấng Mê-si-a (x. Ds 24,17). Nói cách khác, sự hiện diện lâu dài của người Do-thái tại Ba-by-lon và Ba Tư đã để lại ảnh hưởng tôn giáo và trí thức (x. Đn 2,48), khiến các nhà chiêm tinh phương Đông có thể biết truyền thống về một vị vua Mê-si-a của Do-thái. Tuy nhiên, họ vẫn chưa có được mặc khải Kinh Thánh trọn vẹn, mà chỉ mới manh nha thôi, và chính vì thế họ trở thành hình ảnh lý tưởng của dân ngoại biết tìm kiếm chân lý về Thiên Chúa.
Về ý nghĩa, thánh Mát-thêu không nhấn mạnh họ đến từ nước nào, mà muốn nhấn mạnh rằng họ từ phương Đông (tức là nơi xa với mặc khải của Ít-ra-en), họ là dân ngoại, không phải Do-thái, là những người ở xa, nhưng lại sớm nhận ra, đến gần và thờ lạy Đức Giê-su là nguồn mặc khải đích thực. Thiên Chúa mặc khải cho muôn dân, không thiên vị ai, ơn cứu độ của Người nơi Đức Giê-su Ki-tô.
2. Ngôi sao ở phương Đông là sao nào ?
Chúng ta thấy Mát-thêu gọi ngôi sao báo hiệu cho các nhà chiêm tính là “autou ton astera” - ngôi sao của Người, tức là của Vị Vua mới sinh (x. Mt 2,2). Như vậy, Mát-thêu không đề cập đến tên gọi ngôi sao, không chỉ nói đến “một ngôi sao”, mà thực sự nhấn mạnh đến “ngôi sao” là dấu chỉ thuộc về Vị Vua được sinh ra. Nói cách khác, Mát-thêu chủ ý không quan tâm đến thiên văn học, mà đến ý nghĩa mặc khải : Mát-thêu cố ý theo lối hiểu của Do-thái giáo thời sau lưu đày Ba-by-lon, tức là thời Ba Tư khi cho rằng “ngôi sao” là biểu tượng chỉ về Đấng Mê-si-a, là Vị Vua tương lai. Sách Dân Số đã minh chứng điều này qua lời sấm của ông Bi-lơ-am rằng : “Một vì sao mọc lên từ Gia-cóp, một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en” (Ds 24,17).
Mát-thêu có ý dùng hình ảnh này để nhấn mạnh rằng Đức Giê-su chính là Đấng Mê-si-a, là Vua được hứa ban cho Ít-ra-en mà một người dân ngoại là Bi-lơ-am đã tiên báo từ xưa. Đối với Mát-thêu, người Do-thái (tiêu biểu là các Kinh sư, người Pha-ri-sêu) có Kinh Thánh nhưng không lên đường tìm gặp Hài Nhi Giê-su ; còn dân ngoại (tiêu biểu là magoi) không có Sách luật Torah nhưng biết tìm kiếm Hài Nhi mà thờ lạy. Ngôi sao không dẫn các nhà chiêm tinh đến Giê-ru-sa-lem là trung tâm tôn giáo, mà dẫn họ đến Bê-lem, một làng quê nghèo hèn (x. Mk 5,1). Điều này cho thấy mặc khải của Thiên Chúa vượt ra ngoài biên giới Do-thái giáo.
Mát-thêu cho thấy một tiến trình quan trọng của đức tin mà các nhà chiêm tinh là gương mẫu : từ tri thức tự nhiên (qua việc nhìn thấy ngôi sao), đến việc có được mặc khải một phần (nhờ sứ điệp Kinh Thánh trong Mk 5,1 mà họ hiểu được), tiến đến việc có được mặc khải trọn vẹn (gặp được Hài Nhi Giê-su), và tiến đến việc tin tưởng hoàn toàn (qua việc sụp lạy trước Hài Nhi). Điều này cho thấy lý trí và khoa học có thể dẫn dắt con người đi tìm Thiên Chúa, nhưng chỉ có Lời Chúa mới dẫn đưa con người đến gặp được chính Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng đích thân soi đường chỉ lối cho những ai biết thành tâm tìm kiếm Người (x. Mt 2,9//Xh 13,21).
III. TRUYỀN THỐNG GỌI CÁC NHÀ CHIÊM TINH LÀ “BA VUA”
1. Con số ba
Theo não trạng Do-thái và Hy-lạp, mỗi lễ vật được gán cho một người dâng. Vì thế, từ thế kỷ II-III, các Ki-tô hữu cũng theo lối hiểu này và cho rằng ba lễ vật (vàng, nhũ hương, một dược) ám là chỉ ba người. Một số bản văn ngoại thư còn cho là có đến 8 magoi (số 8 tượng trưng cho khởi đầu mới mẻ, ở đây 8 magoi nhấn mạnh đến thời đại mới), một số truyền thống đông phương còn cho rằng có đến 12 magoi, chỉ sự phổ quát của toàn thể dân ngoại.
Như vậy, điều quan trọng theo Mát-thêu không phải là mấy nhà chiêm tinh, mà là tất cả dân ngoại, nhờ hiểu biết, sẽ nhận ra và thờ lạy Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a. “Ba” hay “tám” hay “mười hai” không phải để trả lời cho câu hỏi là có mấy nhà chiêm tinh, mà để chỉ điều họ tin và tuyên xưng qua các lễ vật dâng lên Hài Nhi Giê-su.
2. Tại sao gọi magoi là “vua” ?
Magoi được gọi là các vua ấy là bởi vì Hội Thánh đã đọc trình thuật Hiển linh dưới ánh sáng Cựu Ước, nhất là các bản văn nói về đấng Mê-si-a tương lai.
Chẳng hạn Tv 72,10-11 : “Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Xơ-va, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự”. Thánh vịnh này được hiểu là nói về đấng Mê-si-a là vị Tân vương lý tưởng thuộc dòng tộc Đa-vít. Hội Thánh nhận ra các magoi đã làm ứng nghiệm hình ảnh Tân Vương được nói trong Thánh vịnh này, và họ là tượng trưng cho “hàng vương giả Tác-sít”, “các vua Ả-rập, Xơ-va” cũng như “mọi quân vương” của “muôn dân nước”.
Còn Is 60,3.6 thì loan báo rằng : “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha : tất cả những người từ Xơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa”. Và Hội Thánh cũng đọc thấy magoi là các “vua chúa” từ lời sấm này của ngôn sứ I-sai-a.
Hội Thánh gọi các nhà chiêm tinh là vua, không phải vì muốn đề cao vị thế quyền lực chính trị hay lịch sử, mà muốn nhấn mạnh rằng họ là đại diện cho vua chúa muôn dân đến triều bái Vua Mê-si-a Hài Nhi, và họ là những người hoàn tất các lời tiên báo về các vua chúa và chư dân quy phục đức tin trước Hài Nhi Giê-su là Vua Cứu Thế.
3. Ba tên gọi ý nghĩa
Đến thế kỷ VI, truyền thống Ki-tô giáo Tây Phương qua các bản văn phụng vụ, cách riêng là Lễ Hiển Linh, rồi qua văn chương bình dân, nghệ thuật Ki-tô giáo như các bức khảm, tranh vẽ, điêu khắc v.v. đã gọi tên “ba vua” là Caspar (hoặc Gaspar), Melchior, Balthasar. Ba tên gọi này xuất hiện trong một văn bản lịch sử cổ xưa bằng tiếng La-tinh “Excerpta Latina Barbari” xuất hiện vào tk VI, ghi chép về lịch sử phương Đông, cách riêng là các vương triều Ba-by-lon và Ba Tư.
Ba tên gọi này có ý nghĩa quan trọng về thần học : 1/Caspar (hoặc Gaspar) nghĩa là “người giữ kho báu”, phù hợp với lễ vật là vàng, biểu tượng của vương quyền, sự giàu có của các dân ngoại, dâng cho Đức Giê-su ; 2/ Melchior : gốc tiếng Híp-ri : melek (vua) + ’ôr (ánh sáng), nghĩa là “vua của ánh sáng”, ám chỉ Đức Ki-tô là ánh sáng muôn dân ; 3/ Balthasar : gốc tiếng Ác-cát, nghĩa là “thần Bel bảo vệ vua/vương quyền” (Đn 5,1-2 nhắc đến tên vua Bên-sát-xa có gốc gác tương tự).
Như vậy, ba tên gọi trên tượng trưng cho ba nền văn hóa lớn là Ba Tư, Sê-mít và Ba-by-lon. Thiên Chúa dùng cả văn hóa và lịch sử ngoại giáo để dẫn người ta đến việc nhận biết Đức Giê-su là “Vua các vua”.
Đến thế kỷ thứ VIII, một văn bản được cho là của thánh Bê-đa Khả Kính đã gán những đặc điểm khác nhau cho tên gọi của “ba vua” như sau : Caspar là trung niên ; Melchior là lão niên đầu bạc ; Balthasar là thanh niên da sậm. Như vậy ba vị ám chỉ ba điều :
1/Ba độ tuổi (trẻ, trung niên, già cả) : mọi giai đoạn của đời sống con người đều được mời gọi tìm kiếm, nhận biết và tôn thờ Đức Kitô ;
2/Ba châu lục (Á, Âu, Phi - theo quan niệm về thế giới cổ xưa, chỉ toàn thể thế giới có người cư ngụ) : Đức Giê-su Ki-tô không chỉ là Đấng Mê-si-a của Ít-ra-en, mà còn là Vua và Đấng Cứu Độ của toàn thể nhân loại ;
3/Ba nhân loại (tượng trưng của ba nền văn minh hay ba khía cạnh : Học giả - trí thức, đại diện cho lý trí, khoa học, thiên văn, tìm kiếm chân lý ; quyền quý - vương giả, đại diện cho quyền lực chính trị, xã hội ; dân ngoại, đại diện cho các dân tộc không thuộc Giao Ước Ít-ra-en. Điều này có nghĩa là Đức Giê-su Ki-tô là Chúa của mọi trí hiểu nhân loại, của mọi quyền bính trần gian, và của mọi nền văn hóa, tôn giáo ngoài Ít-ra-en. Đây là đạo lý quan trọng của Lễ Hiển Linh : Thiên Chúa tự tỏ mình ra cho muôn dân (epiphaneia).
IV. KẾT LUẬN
Mát-thêu cho thấy các nhà chiêm tinh là những người không thuộc Giao ước Xi-nai, không có Torah, không có Ngôn sứ, chỉ có ánh sáng tự nhiên (ngôi sao), nhưng lại đọc biết các dấu chỉ mà lên đường tìm Vua Do-thái mới sinh, rồi sấp mình thờ lạy. Như vậy, nghịch lý ở chỗ : dân ngoại nhận biết Hài Nhi Giê-su là Vua và là Chúa của mình, còn Giê-ru-sa-lem thì bàng hoàng, Hê-rô-đê thì sợ hãi, các Thượng tế và Kinh sư biết Kinh Thánh nhưng lại không lên đường tìm kiếm Chúa của mình.
Mát-thêu trình bày Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a của muôn dân nước, được cảnh tượng thiên nhiên chứng giám, dân ngoại kiếm tìm, nhưng bị quyền lực chính trị và tôn giáo Do-thái chối từ.
Cầu nguyện bằng thánh vịnh đáp ca lễ Hiển Linh, trích từ Tv 72 :
Tâu Thượng Đế,
xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,
để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.
Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị
tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.
Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,
từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất.
Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm,
hàng vương giả sẽ về triều cống.
Cả những vua Ả-rập, Xơ-va,
cũng đều tới tiến dâng lễ vật.
Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,
muôn dân nước thảy đều phụng sự.
bài liên quan mới nhất
- Bài 156 : Hài nhi nằm trong máng cỏ | Dưới ánh sáng Lời Chúa
-
Bài 155: Sự Công Chính của Thánh Giuse nhìn từ biến cố Nhập Thể | Dưới ánh sáng Lời Chúa -
Bài 154: Thầy có thật là Đấng phải đến không? | Dưới ánh sáng Lời Chúa -
Bài 152: Ngày Tận Thế | Dưới ánh sáng Lời Chúa -
Bài 151 : Vương Quyền của Đức Ki-tô | Dưới Ánh Sáng Lời Chúa -
Bài 150 : Bách hại và Tử đạo thời Tân ước | Dưới ánh sáng Lời Chúa -
Bài 149: Cứ phá hủy Đền thờ này đi ! | Dưới ánh sáng Lời Chúa -
Bài 148: Mạc khải Kinh Thánh về Sự Chết | Dưới ánh sáng Lời Chúa -
Bài 147: Người Pha-ri-sêu và người Thu Thuế -
Bài 146: Viên Quan Tòa và Bà Góa: vấn nạn công bằng | Dưới ánh sáng Lời Chúa
bài liên quan đọc nhiều
- Bài 13: Chúa Thánh Thần qua các tước hiệu trong Kinh Thánh
-
Bài 32: Giờ thứ ba, giờ thứ sáu,... Giờ thứ mười một thời khắc trong Kinh Thánh -
Bài 12: Cái Biết Theo Kinh Thánh I Dưới ánh sáng Lời Chúa -
Bài 42: Tỉnh thức hay Canh thức theo Kinh Thánh -
Bài 14: Chúa Giêsu được ĐƯA LÊN trời -
Bài 10: Sự kiện “hiện ra” trong trình thuật Kinh Thánh I Dưới ánh sáng Lời Chúa -
Bài 62: Chứng từ Đức Kitô Phục Sinh / Dưới Ánh Sáng Lời Chúa -
Bài 20: Kiểu nói “Yêu, Ghét” trong Kinh Thánh -
Bài 115 : Người con hoang đàng hay người cha nhân hậu ? -
Bài 64: Thiên Sai Luận Mục Tử / Dưới Ánh Sáng Lời Chúa